Stories that stick – cuốn sách khiến mình muốn được kể chuyện

Đầu năm, mình vô tình nhìn thấy note 1-1 của sếp có nhắc đến việc cải thiện kỹ năng kể chuyện. Lúc đó mình khá tò mò, vì kể chuyện có sức mạnh gì mà sếp mình lại chú trọng nó đến vậy? Sau này, khi phải thực hiện một số buổi thuyết trình về ý tưởng sản phẩm, thì một comment mà sếp thường xuyên cho mình đó là, Em thử kể một câu chuyện hoàn chỉnh với ý tưởng này xem. Lúc này thì mình tò mò quá rồi, thế nên mình bắt đầu research về việc kể chuyện rồi bị thuyết phục bởi giá trị của nó lúc nào không biết. Mình quyết định chọn một cuốn sách để nhập môn kể chuyện, và nhờ đó mà mình tìm được Stories that stick của Kindra Hall – cuốn sách vừa gia nhập câu lạc bộ favorite books của mình.

Stories that stick là cuốn sách hướng dẫn bạn cách kể chuyện, cụ thể là kể chuyện trong kinh doanh và công việc. Cuốn sách này cuốn hút đến mức mình háo hức thử nghiệm nó ngay khi mới đọc chương đầu, khi mà Kindra vẫn đang nói về việc ta có thể giành được sự chú ý của người khác nhờ kể chuyện như thế nào.

Lúc đó là trước giờ đi ngủ. Chibi vẫn còn đang ham mê với đám đồ chơi và vẫn chưa muốn đi đánh răng. Nếu bạn đã có con thì bạn sẽ hiểu, thuyết phục một em bé rằng đánh răng là việc cần thiết trước khi đi ngủ là việc chẳng dễ chút nào. Tụi trẻ con chưa hiểu rằng hàm răng cần được bảo vệ, chẳng có thứ gì quan trọng hơn là trò chơi mà chúng đang chơi cả.

Nhưng ngay khi mình bắt đầu với Ngày xửa ngày xưa, có một công chúa sống trong một lâu đài nguy nga tráng lệ… thì Chibi lập tức bỏ đồ chơi xuống và nhìn mình rất tò mò, như thể đang đợi xem mẹ sẽ nói gì tiếp theo. Câu chuyện của mình rất đơn giản. Nó nói về một em bé không chịu đánh răng, bị sâu răng đến mức phải nhổ, và từ đó về sau em bé luôn luôn chăm chỉ đánh răng để không còn bị sâu răng nữa.

Cốt chuyện của mình đơn giản đến mức bất cứ ai cũng có thể nghĩ ra được. Ở đó có một nhân vật tương đồng với người nghe (Chibi) – em bé thích ăn đồ ngọt và không thích đánh răng. Có một cao trào là khi em bé bị đau răng, phải đi nhổ răng. Có một thay đổi về thói quen sau cao trào – chăm chỉ đánh răng để không bị sâu răng nữa. Những đặc điểm relatable của câu chuyện khiến cho Chibi cảm thấy bị thu hút ngay lập tức, có thể đồng cảm với nhân vật và câu chuyện, và dẫn đến kết quả là Chibi muốn hành động giống như nhân vật ở trong chuyện – chăm chỉ đánh răng trước khi đi ngủ.

Mình đã rất phấn khích khi nhận được sự chú ý hoàn toàn của Chibi trong suốt câu chuyện và khi con tự đề nghị đi đánh răng sau khi nghe xong chuyện. Đó là thành công đầu tiên khiến cho mình càng hăng hái đọc tiếp.

Trong Stories that stick, Kindra nói về kết cấu cơ bản của một câu chuyện:

  • The normal: cách mà mọi thứ vẫn luôn diễn ra từ trước đến giờ
  • The explosion: thời điểm bùng nổ, khi mà mọi thứ đạt đến cao trào và một điểm mấu chốt tạo ra sự thay đổi toàn diện
  • The new normal: khi mà mọi thứ đã lắng xuống sau cao trào, một trật tự mới đã được thiết lập

Bạn sẽ thấy rằng mọi câu chuyện đều được phát triển theo cơ cấu cơ bản như vậy. Có thể người kể chuyện sẽ dành rất nhiều thời gian để xây dựng cho bạn cái nhìn về the normal. Có thể cần rất nhiều diễn biến, tình tiết để đẩy câu chuyện đến the explosion – nơi mọi thứ đạt đến cao trào và đòi hỏi sự thay đổi. Nhưng cuối cùng, mọi câu chuyện tốt đều kết thúc ở the new normal, khi mà Happily ever after thường là cái kết của phần lớn câu chuyện cổ tích và ngôn tình.

Kindra cũng nói về bốn loại câu chuyện thường được dùng trong công việc:

  • The value story: câu chuyện về giá trị của sản phẩm / công ty
  • The founder story: câu chuyện của người sáng lập, lý do và con đường mà họ tạo ra công ty / sản phẩm
  • The purpose story: câu chuyện mục đích để tạo ảnh hưởng với người khác, ngay cả khi bạn không phải người sáng lập
  • The customer story: câu chuyện của khách hàng

Tuỳ vào vị trí của mình, mục đích định hướng người nghe, tuỳ vào đối tượng nghe, mình sẽ chọn một trong bốn câu chuyện để phù hợp nhất với hoàn cảnh.

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi khi ta trao đổi với ai đó, khả năng cao là ta đang trao đổi những câu chuyện khác nhau với họ. Nhưng không phải lúc nào ta cũng ý thức được rằng thực ra mình đang kể chuyện, và ta càng không chú ý đến tác động mà câu chuyện mang lại với người nghe. Stories that stick không phải là một phát minh kì diệu nào đó. Nhưng nó giúp cho ta trở nên có ý thức hơn về việc kể chuyện và đưa ra một bộ khung để ta xây dựng câu chuyện hợp lý và hiệu quả hơn.

Mình đã bước vào con đường lấy kể chuyện làm niềm vui, không chỉ trong công việc mà cả trong cuộc sống hàng ngày. Chibi giờ sẽ luôn háo hức được nghe những câu chuyện của mẹ, chẳng theo một sách vở nào nhưng luôn mở ra một cái gì đó mới cho con tưởng tượng. Một vài ý tưởng mà mình vẽ ra cũng đã nhận được sự hưởng ứng của đồng nghiệp, khi họ thấy câu chuyện của họ thể hiện trong đó.

Mình nghĩ với Kindra, điều đó có nghĩa là cô ấy đã thành công khi tạo ra thêm một người kể chuyện. Với mình, kể chuyện sẽ luôn nằm trong câu trả lời của mình nếu ai đó hỏi, làm product manager cần có kỹ năng gì?

Leave a comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *